kết quả từ 1 tới 2 trên 2
  1. #1
    Nhậttú's Avatar


    Tham gia ngày
    Tue May 2005
    Bài Viết
    259
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài viết

    Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam

    Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Bài viết này phân tích về những loại được đề cập trong Bộ luật dân sự (BLDS) và một số loại tài sản cơ bản thường được sử dụng trong khoa học pháp lí, có ý nghĩa đối với luật dân sự để từ đó làm rõ hơn đặc tính pháp lí của từng loại nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa cách hiểu về loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam.

    1. Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

    Căn cứ vào Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Đây là cách phân loại đồng thời cũng là cách định nghĩa tài sản của bộ luật.

    Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm giác được bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không thể kiểm soat, chiếm hữu được nó thì đồng nghĩa với việc con người không thể tác động vào nó. Do đó, không khí, gió, mưa thuộc về vật chất nhưng không thể được coi là tài sản về mặt pháp lí. Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự cần thỏa mãn những điều kiện sau:

    - Là bộ phận của thế giới vật chất;
    - Con người chiếm hữu được;
    - Mang lại lợi ích cho chủ thể
    - Có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

    Tiền, theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế. Với việc BLDS 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tai BLDS 1995 thì về mặt pháp lí, tiền có thể được hiểu là nội tệ hay ngoại tệ. Tuy nhiên, ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt Nam.

    Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Giáy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại duối nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, trái phiếu, công trái…khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, Ngân hàng, kho bạc. Công ty cổ phần… Nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị của các loại tài sản khác, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mênh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế của giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền.

    Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng kí ô tô, sổ tiết kiệm…không phải là giấy tờ có giá.
    Quyền tài sản theo định nghĩa tại Điều 181 BLDS 2005 thống nhất viết tắt là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự (GDDS). Theo đó thì quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền này phải được trị giá được thành tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định. Hiện nay, pháp luật dân sự VN công nhận một số quyền tài sản là tài sản như quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ…

    Trong luật hình sự, việc xác định được đúng loại tài sản theo Điều 163 BLDS sẽ có ý nghĩa trong việc xác định đúng một số tội danh như tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154 BLHS năm 1999)….

    2. Bất động sản và động sản

    Khái niêm bất động sản và động sản đã được quy định tại Điều 174 BLDS năm 2005 như sau: “Bất động sản là tài sản bao gồm:

    - Đất đai
    - Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó
    - Các tài sản gắn liền với đất đai
    - Các tài sản khác do pháp luật quy định
    Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.

    Cách phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản có thể di dời được hay không thẻ di đơi được ( một số nước còn dựa vào cả công dụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạt giống, máy móc, nông cụ,, là bất động sản). Cách phân loại này là tiêu chí mà hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giao dichj liên quan đến hai loại tài sản rất khác nhau, cần phải có quy phạm điều chỉnh riêng đối với từng loại. Theo pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân loại tài sản thành bất động sản và động sản có rất nhiều ý nghĩa:

    - Xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản
    - Xác lập thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản
    - Xác định được quyền năng của chủ thể đối với từng loại tài sản nhất định
    - Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận.
    - Xác lập căn cứ xác lập quyền sở hữu.
    - Xác định hình thức của hợp đồng.
    - Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác.
    - Xác định phương thức kiện dân sự.
    - Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự: theo Điều 35 BLTTDS năm 2004 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự là Tòa án nơi có bất động sản đó.

    3. Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức

    Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định.
    Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như con bê do con bò đẻ ra, hoa quả thu hoạch từ cây cối…Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải do tài sản tự sinh ra ví dụ như tiền lãi, tiền thuê nhà…Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác, sử dụng tài sản gốc.
    việc phân loại tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa pháp lí trong một số trường hợp nhất định:
    - Có ý nghĩa trong việc xác định chủ sở hữu của tài sản.
    - Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức, ví dụ như trường hợp chiếm hữu hợp pháp gia súc, gia cầm thất lạc thì người chiếm hữu được hưởng một nửa số gia súc hoặc gia cầm được sinh ra (Điều 242, 243 BLDS)

    4. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu, tài sản không đăng kí quyền sở hữu

    Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định bắt buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu hiện nay như nhà, máy bay, tàu biển, ô tô, súng săn…
    Tài sản không đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà theo quy định của pháp luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    Ý nghĩa của sự phân loại:
    - Xác định thời điểm phát sinh, chuyển giao quyền sở hữu.
    - Xác định phương thức kiện dân sự.
    - Xác định hình thức của hợp đồng.

    Xem thêm các chủ đề cùng thể loại :


  2. #2
    Nhậttú's Avatar


    Tham gia ngày
    Tue May 2005
    Bài Viết
    259
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài viết
    5. Tài sản cấm lưu thông, hạn chế lưu thông, tự do lưu thông

    Tài sản cấm lưu thông là tài sản mà vì lợi ích của nó đối với nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch như vũ khí quân dụng, ma túy, chất phóng xạ, động vật quý hiếm…

    Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự nhất thiết phải tuân theo những quy định riêng của pháp luật. Trong một số trường hợp phải được sự đồng ý, cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ vũ khí thể thao…

    Tài sản tự do lưu thông là những tài sản mà không có quy định nào của pháp luật hạn chế việc dịch chuyển đối với tài sản đó. Nếu có sự dịch chuyển của chủ thể cũng không cần xin phép. Hầu hết các tài sản tồn tại trên thực tế hiện nay đều là tài sản tự do lưu thông như xe máy, tivi, tủ lạnh…

    Việc xác định đúng loại tài sản cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định hiệu lực pháp lí của GDDS.

    6. Tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai

    Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó. Ví dụ nhà đã được xây…

    Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hay chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai. Ví dụ tiền lương sẽ được hưởng…Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai còn bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu các bên. Ví dụ như tài sản có được do mua bán, taengj cho…nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu.

    Ý nghĩa:

    - Xác định đối tượng được phép giao dịch
    - Xác định hình thức, thủ tục xác lập.

    7. Tài sản chung, tài sản riêng

    Tài sản riêng là tài sản của một chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Chủ sở hữu ở đây có thể là cá nhân hoặc các chủ thể khác như Nhà nước, hợp tác xã…

    Tài sản chung là tài sản của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu của các chủ sở hữu đối với tài sản chung có thể tồn tại dưới hình thức sở hữu chung hợp nhất hoặc sở hữu chung theo phần.
    Việc xác định được tài sản chung hay tài sản riêng có ý nghĩa trong việc xác định được các quyền năng của chủ sở hữu, quyền ưu tiên của chủ thể cũng như xác định hiệu lực của GDDS.

    8. Tài sản xác định được chủ sở hữu, tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu

    Tài sản xác định chủ sở hữu là tài sản vào thời điểm xem xét có chủ sở hữu đối với tài sản đó.
    Tài sản vô chủ là tài sản mà vào thời điểm xen xét thì chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó và chưa có ai được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó.

    Tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu là tài sản mà vào thời điểm xem xết không xác định đượ chủ sở hữu và cũng không có căn cứ chứng minh rằng chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó.

    9. Tài sản chia được, tài sản không chia được

    BLDS VN hiện nay chỉ phân loại vật thành vật chia được và vật không chia được mà không xem xét việc chia được hay không chia được đối với các loại tài sản khác như giấy tờ có giá và quyền tài sản.

    Có ý kiến cho rằng, tài sản chia được có thể được hiểu là những vật khi chia thành những phần nhỏ vẫn giữ nguyên được hình dáng, tính năng sử dụng ban đầu hoặc là những tài sản khác mà khi cần chia thì có thể chia được bằng chính tài sản đó mà không cần trị giá thành tiền để chia.

    10. Tài sản hữu hình, tài sản vô hình

    Tài sản hữu hình được hiểu là những tài sản tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể mà con người có thể dùng các giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân, đong, đo, đếm được.

    Tài sản vô hình được hiểu là tài sản mà con người không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lượng để tính. Xét theo nghĩa rộng thì tài sản vô hình hiện nay chính là các quyền tài sản. Tuy nhiên, nhắc đến tài sản vô hình người ta thường nhắc đến tài sản trí tuệ. Như vậy, theo nghĩa hẹp thì tài sản vô hình được hiểu là các quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ như quyền tài sản đối với quyền tác giả…

    Trên đây là một số loại tài sản cơ bản được quy định hoặc cần thiết được quy định bởi luật dân sự. Ngoài ra, tài sản còn được phân thành nhiều loại lhacs nhau như tài sản là tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, tài sản có thật, tài sản ảo, tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản công, tài sản tư, tài sản tài chính, tài sản phi tài chính…


    Sưu tầm

 

 

Quyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể gởi bài viết
  • Bạn không thể gởi trả lời
  • Bạn không thể gởi file
  • Bạn không thể sửa bài viết
  •