kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Chủ Đề: Trầu cau qua thơ ca

  1. #1
    Thạch Thảo's Avatar


    Tham gia ngày
    Sun Apr 2005
    Đến Từ
    Bảo Lộc
    Bài Viết
    1,265
    Cảm ơn
    2
    Được cảm ơn 9 lần trong 6 bài viết

    Trầu cau qua thơ ca

    Ngày xưa người Việt thường có thói quen ăn trầu trở thành phong tục, chuyện thần thoại Trầu Cau ( truyền tụng qua dân gian ) nêu lý do tại sao có tục ăn trầu. Thời đó đàn ông hay đàn bà thường có mang theo túi trầu, trong nhà có giỏ trầu cau, bình vôi bằng sứ hay bằng sành, con dao nhỏ để bổ cau, rọc trầu, cái khay gỗ hình vuông cẩn ốc xa cừ để diã trầu mời khách.

    Qua thi ca trầu cau liên quan đến tình duyên, về hôn nhân đôi khi không đòi hỏi mâm cao cổ đầy, bạc vàng châu báu, nhưng tuyệt đối phải có trầu cau, các vùng thôn quê đôi khi hai gia đình nhận lễ vật trầu cau, chai rượu trở thành suôi gia. Mặc dù ngày nay, con người đã tiến xa hơn trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa, nhưng đây là một phong tục đẹp, thể hiện bản sắc riêng, lưu lại mỹ tục đó, trầu cau làm sính lễ tăng thêm phần long trọng, nhà gái nhận lễ vật tặng bà con, hàng xóm gói trà, cái bánh, trái cau lá trầu, dù ít người còn ăn trầu chẳng ai từ chối.

    Tuy nhiên đời sống tại Việt Nam các vùng quê ít người lớn tuổi còn ăn trầu có hàm răng đen. Các quốc gia Âu Châu không trồng trầu cau, như Việt nam và các nước Tích Lan, Lào, Cambodia, Thái Lan, còn tục ăn trầu và trồng trầu cau. Nguồn gốc cây cau dây trầu ở Mã lai, được ảnh hưởng nhiều người sinh sống vùng bán đảo Ðông Nam Á. từ đó du nhập vào Việt Nam (2) Các nước Cambodia, Mã lai. Indonesia, Ấn độ còn ăn trầu. Tôi phỏng vấn một số sinh viên du học từ các nước trên, được biết ở vùng quê của họ còn tục lệ ăn trầu. Tích Lan (Sri lanka) ngày nay mọi nghi lễ đều dùng trầu; ngay cả việc dâng cau trầu lên cúng Phật (3)

    Sự Tích Trầu Cau của Việt Nam có thể hoang đường? câu chuyện ấy dù sáng tạo nhưng khuyên người đời sống phải thủy chung, đạo đức gia đình luôn được đề cao, phong tục thời xa xưa đàn bà dù không ăn trầu nhưng phải nhộm răng đen “bỏ công trang điểm má hồng răng đen “ Dù giàu hay nghèo tại thôn quê đều có trồng trầu cau. Qua ca dao hay các hội hè đình đám, xướng họa nhiều đề tài về trầu cau, được các nhạc sĩ phổ thành những ca khúc bất hủ. Ca dao phản ảnh tình cảm, gia đình và xã hội. Hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, thi ca phát xuất tận đáy lòng đơn sơ, bóng bẩy, ấm áp như ánh nắng ban mai, mát mẽ như ngọn gió chiều dịu dàng như ánh trăng non.

    Trầu cau không phải thứ đắt tiền, dùng nó làm lễ vật hôn nhân như là giao ước giữa hai họ. Trong vườn miền quê thường trồng cau ngay hàng thẳng lối, thân cây cau có dây trầu leo quanh. Từ Saigon theo quốc lộ 1 về phía Tây Bắc khoảng 10km, qua cầu Tham Lương, rẽ trái một đoạn vào tỉnh lộ 14 là đến địa danh 18 Thôn Vườn Trầu gọi là (Thập Bát Lưu Viên) (Hóc Môn Bà Điểm)

    Xem thêm các chủ đề cùng thể loại :


  2. #2
    Thạch Thảo's Avatar


    Tham gia ngày
    Sun Apr 2005
    Đến Từ
    Bảo Lộc
    Bài Viết
    1,265
    Cảm ơn
    2
    Được cảm ơn 9 lần trong 6 bài viết
    Lịch sử ghi lại vua Lê Ðại Hành ngồi trên mình ngựa mời sứ giả nhà Tống cùng ăn trầu, đó cũng là nghi lễ ngoại giao.Trầu cau giúp cho nhiều người nên vợ chồng. Ngày xưa quan niệm hôn nhân cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Cha mẹ hai bên quyết định rồi con cái không thể cãi lại. Chàng yêu nàng tha thiết “tình trong như đã mặt ngoài còn e” Cha mẹ nàng nhận lễ vật trầu cau qua lễ hưá hôn của người khác. Chàng trách em sao vội lấy chồng, để anh chờ đợi biết mặn nồng cùng ai ? Nhưng nàng nhẹ nhàng giải thìch

    Ba đồng một mớ trầu cây
    Sao anh không hỏi những ngày còn không
    Bây giờ em đã có chồng
    Như chim vào lồng như cá cắn câu
    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
    Chim vào lồng biết thưở nào ra

    Tục lệ trao trầu cau là một trong những nghi lễ không thể bỏ qua trong việc biểu lộ tình yêu của thanh niên nam nữ . Đó cũng là một trong những lệ làng được quy định trước khi đôi trai gái tiến đến hôn nhân. Trầu cau làm sính lễ, người con gái băn khoăn muốn từ chối ngay từ lúc đầu trong lễ cầu hôn

    Ai bưng cau trầu đến đó
    Xin chịu khó mang về ,
    Em đang theo chân thầy gót mẹ
    Ðể cho trọn bề hiếu trung

    Miếng trầu là đầu câu chuyện, gặp nhau thường mời trầu, để dễ dàng gợi chuyện thăm hỏi

    Tiện đây ăn miếng trầu
    Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là ?
    Có trầu mà chẳng có cau
    Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm

    Nhưng người con gái khi đã yêu đôi lúc giấu cha giấu mẹ, têm trầu đưa cho bạn trai ngầm nói với bạn trai khi vào nhà, biết cách cư xử.

    Miếng trầu có bốn chữ tòng
    Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà
    Nào là chào mẹ chào cha
    Cậu cô chú bác... mời ra xơi trầu

    Vườn quê thơm mùi hoa của những buồng hoa cau đang nở rộ dưới nắng ấm miền quê đôi trai tài gái sắc qua một lần gặp gỡ, để rồi nhớ rồi thương tình yêu chân thành thiết tha

    Vào vườn hái qủa cau xanh
    Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
    Trầu nầy têm những vôi tàu
    Ở giửa đệm quế, đôi đầu thơm cay
    Mời anh sơi miếng trầu này
    Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù mồng
    Dù chẳng nên đạo vợ chồng
    xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương

    khi bước vào tuổi trưởng thành, con trai, con gái được tự do trong tình yêu đôi lứa. Họ biết nhau rồi quen nhau nhờ các buổi làm nương rẫy hay những lần gặp nhau trong dịp lễ hội của làng, và miếng trầu đã làm môi giới cho tình yêu của họ để rồi hứa hẹn mơ ước tương lai tươi sáng, hay để rồi tuyệt vọng ngẩn ngơ

    Cho anh một miếng trầu vàng
    Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm
    Yêu nhau chẳng lấy được nhau
    Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già

    Anh về cuốc đất trồng cau
    Cho em trồng ké dây trầu một bên
    Mai sau trăm họ lớn lên
    Cau kia ra trái làm nên cửa nhà.

    Tùy theo phong tục mỗi địa phương sính lễ thường khác nhau, tuy nhiên không thể thiếu được buồng cau, anh chàng kín đáo với nghệ thuật tán gái tinh tế hoặc với giọng bông lơn như chuyện nhờ khâu áo nhờ khâu hộ chỉ đường tà để khi nào lấy chồng sẽ trả công, người tình nguyện giúp từ lễ nghi cho đến việc ăn ở chiếu nằm, chăn đắp ..chàng không nói rõ mà người con gái đó thừa hiểu chú rể là chàng rồi

    Giúp em một thúng xôi vò
    Một con lợn béo một vò rượu tăm
    Giúp em đôi chiếu em nằm
    Ðôi chăng em đắp đôi tằm em đeo.
    Giúp em quan tám tiền cheo
    Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

    Nếu chẳng may tình duyên không thành mà tình cảm còn nguyên vẹn, lời chàng cũng xót xa đưa

    Nụ tầm xuân nở ra xinh biếc
    Em có chồng anh tiếc lắm thay

    Các bà mẹ thường răn dạy con gái lúc trưởng thành, phải có những đức tính : công-dung-ngôn-hạnh, không nên vội vàng lẫn lơ nhận trầu cau của người khác, luân lý gia đình được xem là một nền tảng vững chắc

    Ði đâu cho đổ mồ hôi
    Chiếu trãi không ngồi trầu để không ăn
    Thưa rằng bác mẹ tôi răng
    Làm thân con gái chớ ăn trầu người

    Có thể nàng từ chối miếng trầu, cũng có nghiã từ chối sự tiếp xúc để tiến đến tình yêu với thái độ dè dặt, kín đáo nghi kỵ

    Sáng nay tôi đi hái dâu
    Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
    Hai anh đứng dậy hỏi han
    Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu
    Thưa rằng tôi đi hái dâu
    Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
    Thưa rằng bác mẹ tôi răn
    Làm thân con gái chớ ăn trầu người

    Trầu cau dù gói đẹp xanh tươi hấp dẫn, nhưng cần cẩn thận khi ăn phải kín đáo mở ra xem có nhiều vôi hay bùa mê thuốc độc trong đó chăng ?

    Ăn trầu thì mở trầu ra
    một là thuốc độc hai là mặn vôi

    Miếng trầu ăn nặng bằng chì
    Ăn rồi em biết lấy gì đền ơn
    Miếng trầu ăn chẳng là bao
    Muốn cho đông liễu, tây đào là hơn

  3. #3
    Thạch Thảo's Avatar


    Tham gia ngày
    Sun Apr 2005
    Đến Từ
    Bảo Lộc
    Bài Viết
    1,265
    Cảm ơn
    2
    Được cảm ơn 9 lần trong 6 bài viết
    Người ghiện trầu đôi khi run tay dù đói no phải ăn một miếng trầu cau. Nhưng với tình yêu mời nhau ăn trầu có những băn khoăn thương nhớ đợi chờ ? có khi lời nói thì bình tĩnh nhưng không che giấu mối cảm tình nồng nhiệt đang như chìm xuống để thấu tâm can nàng Miếng trầu như là một phương tiện mở đầu, là chất keo cố kết những tình cảm thiêng liêng, thầm kín mà cả đôi bên không thể nói bằng lời. Miếng trầu quả cau sẽ là "người mối" nói hộ tình yêu cho họ.

    Vào vườn hái quả cau xanh
    Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
    Trầu này têm những vôi tầu
    Giữa thêm cái cánh hai đầu quế cay
    (Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay)
    Trầu này ăn thật là say
    Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng
    Dù chẳng nên vợ nên chồng
    Xơi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương


    Trầu bọc khăn trắng cau tươi
    Trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh
    Ăn cho nó thỏa tấm lòng
    Ăn nó thỏa sự mình sự ta


    Từ ngày ăn phải miếng trầu
    Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu
    Một thương hai nhớ , ba sầu
    Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.

    Những giao tiếp giữa nam nữ thời phong kiến thường bị giới hạn, tình yêu trai gái tưởng như xa xôi rời rạc.. nhưng tình yêu chân thành và nồng nhiệt tương tư

    Từ ngày ăn phải miếng trầu
    Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
    Biết rằng thuốc dấu bùa yêu
    Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
    Làm cho quên mẹ, quên cha
    làm cho quên cửa, quên nhà
    làm cho quên cả đường ra, lối vào
    làm cho quên cá dưới áo
    quên sông tắm mát, quên sao trên trời


    Con gái xa gia đình về nhà chồng làm dâu, ngày xưa thường va chạm sinh hoạt gia đình « mẹ chồng nàng dâu », hay bị ép buộc lấy nhau để rồi đêm nằm cạnh chồng thở than cuộc tình

    Ðêm khuya thiếp mới hỏi chàng
    Cau khô ăn với trầu vàng xứng không ?

    Người đời thường nói “thương nhau bỏ chím làm mười, hay thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau trái bù hòn cũng méo“, trái cau cũng được phân chia cho sự ghét thương

    Thương nhau cau sáu bửa ba
    Ghét nhau cau sáu bửa ra làm mười

    Yêu nhau trầu vỏ cũng say
    Ghét nhau cau đậu đầu khay chẳng màng



    Các hội hè đình đám trai tài gái sắc dùng đề tài trầu cau hát đối nhau hồn nhiên trong sáng, lời hát đối đáp ngọt ngào trong lễ giáo gia đình không sàm sở, nhưng vượt qua ảnh hưởng lâu đời của nho giáo “ Nam nử thụ thụ bất thân“

    Gặp nhau ăn một miếng trầu
    Gọi là nghiã cũ về sau mà chào
    Miếng trầu đã nặng là bao
    Muốn cho đông liễu tây đào là hơn!
    Miếng trầu kể hết nguồn cơn
    Muốn cho đây đãy duyên nào hợp duyên
    Hay là
    Trầu nầy trầu quế, trầu hầu
    Trầu loan trầu phượng, trầu tôi lấy mình
    Trầu nầy, trầu nghiã, trầu mình lấy nhau
    Trầu nầy têm tối hôm qua
    Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng
    Trầu nầy không phải trầu hàng
    Không bùa không thuốc sao chàng không ăn
    Hay là chê khó chê khăn
    Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.

  4. #4
    Thạch Thảo's Avatar


    Tham gia ngày
    Sun Apr 2005
    Đến Từ
    Bảo Lộc
    Bài Viết
    1,265
    Cảm ơn
    2
    Được cảm ơn 9 lần trong 6 bài viết
    Nữ sỹ Hồ Xuân Hương lận đận tình duyên, đời sống tình cảm kém may mắn, làm cho bà nghi ngờ màu xanh của lá trầu, màu trắng của vôi (lạt như ốc bạc như vôi)

    Qủa cau nho nhỏ miếng trầu ôi
    Này của Xuân Hương đã quẹt vôi
    Có phải duyên nhau thì thắm lại
    Ðừng xanh như lá bạc như vôi

    Tiếng hát ru con của mẹ hiền, đề cập đến trầu cau nhu cầu không thể thiếu trong những lần đi chợ,

    Ru con con thét cho muồi
    Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
    Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
    Mua cau Nam phổ mua trầu chợ Dinh
    (Tùy theo mổi điạ phương có thể thay đổi tên chợ )

    Các cụ bà nhai trầu khó khăn, nên dùng cối đá nhỏ giả trầu, hay cái ống xoáy bằng đồng, có chià dài phần dưới 3 cái răng nhỏ, bỏ trầu cau vào đó xoáy nhỏ. Ăn trầu cũng có nghệ thuật, chọn lựa cau tươi vỏ mỏng ruột nhiều, trầu tươi kèm theo quế hay vỏ của loại cây chay, ăn kèm với cục thuốc lá nhỏ vôi phải màu hồng.. Trần Tú Xương thi hỏng mãi, bất mãn với đời nghe người ta chúc tết sống lâu hưởng phước lộc cho đến đầu bạc răng long .Làm thơ trào phúng

    Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
    Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu ra
    Phen nầy ông quyết đi buôn cối
    Thiên hạ bao nhiêu đứa giả trầu

    Ngày xưa đàn ông hay đàn bà thường bới tóc, họ quan niệm “cái răng cái tóc là vóc con người”, thời ấy hàm răng đen như huyền thì sang trọng quý phái. Nhưng vào thế kỷ thứ 19 .Văn hóa Tây phương du nhập vào Việt nam, đời sống văn minh thay đổi. Phong trào Duy Tân phát xuất từ Quảng nam (1905-1908) khởi đầu cuộc cách mạng khai trí dân sinh đã phá các hủ tục, kêu gọi đàn ông hớt tóc ngắn, cắt móng tay dài lá răm, mặc âu phục…..Mỹ phẩn nhập vào Việt Nam như son, phấn dầu thơm..giúp đàn bà trang đìểm cho nét đẹp, sống ở thành phố phần nhiều bỏ hẳn tục nhộm răng đen ăn trầu.. Bởi vậy khuynh hướng thay đổi qua thi ca

    Năm quan mua lấy miệng cười
    Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen


    Ðời sống thay đổi đàn ông ít mặc áo dài khăn đóng, hay khăn nhiễu bịt đầu được thay thế bộ Âu phục gọn gàn, khăn điều vắt vai đôi guốc gổ từ từ biến mất thay vào đó đôi giày da, thêm chiếc cà vạt xinh đẹp. Hàm răng của các nàng trắng đẹp như hạt bắp, môi son đỏ tươi nở nụ cười đẹp như hoa . Làm cho các chàng say đắm nên hỏi nàng rằng

    Người về có nhớ ta chăng ?
    Ta về ta nhớ hàm răng người cười

    Ca dao được ca tụng qua dân gian, hiện hữu trong đời sống của người dân Việt. Chúng ta rời quê hương, khó tìm được lại kỷ niệm như những ngày sống tại quê nhà trong những buổi trưa hè, đêm trăng thanh gió mát mùi hương cau từ những buồng non mới nứt thơm ngát, nghe tiếng hát ru con của mẹ hiền với những câu ca dao quen thuộc len lỏi vào hồn.

    sưu tầm

  5. #5
    Mẫuđơn's Avatar


    Tham gia ngày
    Sun Apr 2005
    Bài Viết
    160
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài viết
    Trầu Cau theo Lĩnh nam chích quái ghi rằng:

    ngày xưa gia đình họ CAO sinh đôi được hai người con trai đặc tên là Tân và Lang được gia đình gởi theo học người thầy giáo họ LƯU.
    Nhà người thầy có một người con gái xinh đẹp gọi là Liên, Nàng thấy hai chàng đẹp trai chăm học đêm lòng yêu mến. và muốn lập gia đình với người anh, nhưng không thể phận biệt được vì hai người giống nhau..Một hôm Liên đem bát cháo và đôi đủa ra mời hai người, để thử xem ai là anh. Lang mời Tân ăn trước.( người em nhường cho anh. Liên nhận ra người anh nên xin thân phụ kết hôn với Tân)
    Hai vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng người em là Lang cảm thấy buồn vì tình anh em bị san sẽ với Lang phần nào khi người anh lập gia đình sống riêng với hạnh phúc. Lang âm thầm bỏ nhà đi về quê. Ði mãi , Lang gặp một dòng suối lớn chận ngang phía trước. Lang ngồi buồn bên bờ suối khóc cho đến chết, rồi hóa ra một cây CAU. Tân thấy vắng em qúa lâu lên đường đi tìm em. Ðến bên bờ suối thấy xác em, Tân thương em, và nghĩ rằng vì mình xảy ra việc nầy nên liền đập đầu vào cây CAU để chết hóa thành Tảng Ðá vôi, người vợ thấy chồng đi tìm em không trỡ về. lại đi tìm chồng gặp xác chồng bên bờ suối cạnh cây CAU , Liên vật mình vào tảng đá từ trần rồi hóa thành Dây trầu , bám vào Tảng đá leo lên Cây cau.
    Thân phụ của bà Liên xúc động trước tình cảm thiên liêng, cho lập miếu thờ ba người đã ra đi trong Tình yêu và Ðạo nghiã làm người. Mãi cho đến một hôm vua Hùng Vương di qua xứ đó, ngồi bên bờ suối , thấy cây xanh lá mọc bên Tảng đá bu quanh cây .Liền hỏi người điạ phương biết được sự tích. sai người bổ qủa cau ,lấy một miếng nhai với trầu, và nhổ nước hổn hợp trầu cau lên tảng đá, bổng nhiên tảng đá vội có màu đỏ. Vua truyền mọi người lấy giống về trồng để dùng từ đó nước ta có tục ăn trầu

  6. #6
    Mẫuđơn's Avatar


    Tham gia ngày
    Sun Apr 2005
    Bài Viết
    160
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0 lần trong 0 bài viết
    Giai Thoại Trầu Cau:

    Năm bà Đoàn Thị Điểm 25 tuổi (1730) thì thân phụ mất ở nơi dạy học. Bà cùng mẹ và anh đưa linh cữu về quê mai táng, rồi từ đó ba mẹ con lại tới ngụ cư ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (Mỹ Hào) tỉnh Hưng Yên.

    Bấy giờ bà Điểm thường thay anh trong việc tiếp các tân khách. Bà vốn là cô gái tài sắc, lại giỏi về khoa giao tế, nên tiếng tăm bà lừng lẫy khắp nơi. Người ta đồn rằng: khi bà Điểm giúp anh tiếp khách tuy “dâng rau muối mà hơn cả trân tu”. Do đó, khách đến thăm anh bà đã nhiều, mà những khách “phong lưu công tử” đến để dòm ngó bà cũng lắm.

    Khi ấy có hoàng giáp Vũ Diệm, người làng Thổ Vượng (Hà Tĩnh) với các bạn là tiến sĩ Nhữ Đình Toản ở xã Hoàng Trạch (Hải Dương) và tiến sĩ Nguyễn Công Thái ở làng Kim Lũ (Hà Đông) cùng kéo nhau đến nhà bà Điểm. Các “thầy giám” được bà Điểm tiếp đãi rất lịch sự, bà cho người bưng khay trầu ra mời, trên khay có để một bức hoa tiên viết một câu đối:

    Đình tiền thiếu nữ khuyến tân lang
    Hai chữ thiếu nữ ở đây có hai nghĩa: “gió nhẹ” hoặc “cô gái”. Hai chữ tân lang là “cây cau” thì đồng âm với hai chữ tân lang là “chàng rể”. Bởi vậy vế đối cũng có thể hiểu theo hai nghĩa.

    Một là: Trước sân gió thoảng phất cây cau.

    Hai là: Trước sân cô gái mời chàng rể.

    Các thầy đọc xong vế đối, rồi sáu mắt ngó nhau, chẳng ai đối lại được. Thế là trầu cũng chẳng kịp ăn, ý định chòng ghẹo cũng tiêu tan hết, các thầy đành nhã nhặn gửi lời chào bà chủ rồi vội vã rút lui...

 

 

Chủ đề tương tự

  1. Sự khác nhau trong phong tục ba miền
    Bắt đầu bởi Tiểulinhtử trong diễn đàn Việt Nam Văn Hóa Truyền Thống
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 16-04-2009, 18:44
  2. Phong Tục Tập Quán Người Việt
    Bắt đầu bởi Thạch Thảo trong diễn đàn Việt Nam Văn Hóa Truyền Thống
    Trả lời: 103
    Bài mới gởi: 01-01-2009, 13:24
  3. Kho sưu tập các bài thuốc nam
    Bắt đầu bởi Nhậttú trong diễn đàn Sức Khoẻ & Đời Sống
    Trả lời: 80
    Bài mới gởi: 06-12-2007, 19:18
  4. Đám Cưới Việt Nam Ngày Nay
    Bắt đầu bởi Thạchthư trong diễn đàn Việt Nam Văn Hóa Truyền Thống
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-01-2006, 21:40
  5. Tại Sao phải có Phụ Dâu cho Cô Dâu
    Bắt đầu bởi phượngvỹ trong diễn đàn Việt Nam Đất Nước Con Người
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 01-12-2005, 22:03

Quyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không thể gởi bài viết
  • Bạn không thể gởi trả lời
  • Bạn không thể gởi file
  • Bạn không thể sửa bài viết
  •